Saṁyutta Nikāya - Quyển III Thể loại: KINH THERAVADA (c) Khandha Vagga Saṁyutta Pāḷi Chủ đề chính của hầu hết các bài kinh trong phần này là, như tên gọi của nó, uẩn, năm uẩn cấu thành cái được coi là chúng sinh. Mỗi thành phần của các uẩn này, cụ thể là: sắc, thọ, tưởng, các tâm sở và thức, được chỉ ra là một bó dukkha, đau khổ. Được tạo thành từ mười ba Saṁyuttas, Khandha Vagga tạo thành một tuyển tập quan trọng gồm các thảo luận giáo lý về các chủ đề như atta, anatta, vĩnh hằng và đoạn diệt. Kinh Nakulapitu thuật lại lời khuyên dành cho Nakulapitā, một đệ tử lớn tuổi của Đức Phật. Anh ta xin lời khuyên từ Đức Phật về cách ứng xử và giữ cho mình thoát khỏi những đau đớn của tuổi già và bệnh tật. Đức Phật giải thích rằng rūpakkhandha, cơ thể vật chất là một bó khổ đau, luôn phải chịu những đau đớn của tuổi già và bệnh tật; nhưng phức hợp tinh thần có thể được giữ cho không bị thống khổ và đau đớn bằng cách giữ cho nó không bị ô nhiễm bởi những tạp chất. Đại đức Sāriputta trình bày chi tiết hơn về lời giải thích ngắn gọn này của Đức Phật cho Nakulapitā: Kẻ phàm tục vô minh bám vào năm uẩn qua tham ái và ngã mạn, và nắm giữ quan điểm sai lầm rằng mỗi uẩn (rūpa, vedanā, saññā , saṅkhāra và viññāṇa) là tự ngã, atta. Ngay cả khi vị ấy dính mắc vào ngũ uẩn như atta, những uẩn này biểu lộ đặc tính áp bức của chính chúng bằng cách gây ra nỗi đau của tuổi già, nỗi đau của bệnh tật, nỗi đau của phiền não (kilesa). Vì những nỗi đau ngột ngạt này, thế gian phàm tục không được giáo huấn phải chịu sầu, bi, đau, sầu và tuyệt vọng. Nhưng khi người thế tục được hướng dẫn và đã thành tựu Ba Mươi Bảy Yếu Tố Giác Ngộ, vị ấy không dính mắc vào năm uẩn do tham ái, ngã mạn hay chấp giữ những quan điểm sai lầm về ngã. Bấy giờ, mặc dù ngũ uẩn tự biểu hiện đặc tính áp chế, nhưng vị ấy không còn bị phiền não sầu, bi, khổ, ưu, não làm phiền não nữa. Trong Kinh Bhāra, năm nhóm chấp thủ (Pañcupādānakkhandha) được chỉ định như một gánh nặng, một gánh nặng: Đó là tham dục đối với các đối tượng ngũ quan, tham ái hiện hữu, tham ái phi hiện hữu, chịu trách nhiệm cho gánh nặng này được mang theo. Chứng ngộ Thánh đế về Diệt đế, Niết bàn, là nơi ái dục bị tận diệt hoàn toàn, nơi gánh nặng này cuối cùng được vứt bỏ. Kinh Yamaka giải thích rằng ngũ uẩn có bản chất vô thường; họ nên được coi như kẻ thù của mình. Hiểu được bản chất thực sự của chúng là vô thường, không như ý, không thực chất, hai mươi loại tà kiến ​​về ngã nên được loại bỏ để không bị những kẻ thù này tấn công. Kinh Vakkali thuật lại việc Đức Phật viếng thăm Tỳ khưu Vakkali ốm yếu theo yêu cầu của ông. Lòng đại bi của Đức Phật thể hiện trong câu chuyện này. Khi Vakkali thưa với Đức Phật rằng từ lâu ông đã khao khát được diện kiến ​​Đức Phật, Đức Phật nhẹ nhàng quở trách ông: “Này Vakkali, có ý nghĩa gì khi nhìn thấy thân thể đang phân hủy của ta? Chỉ cần thấy Pháp là đủ. Ai đã thấy Pháp là đã thấy tôi. Cơ thể này của tôi cũng giống như tất cả những cơ thể khác - luôn luôn thối rữa, rơi vào mục nát. ” Sau đó, Đức Phật dạy cho anh ta giáo pháp về sự vô thường của mọi sự vật, sự không toại nguyện và không thực chất của chúng và cuối cùng chỉ cho anh ta con đường giải thoát. Trong năm uẩn, Đức Phật dạy rằng tốt hơn là một người nên lầm tưởng cơ thể vật chất của mình là ngã, thay vì tâm trí hay ý thức, bởi vì cơ thể vật chất có vẻ vững chắc và thực chất hơn suy nghĩ hay tâm trí, thứ luôn thay đổi nhanh hơn cơ thể vật chất. thân hình. Khemaka Sutta ghi lại một cuộc đối thoại sáng tỏ giữa một vị tỳ khưu tên là Khemaka và một nhóm tỳ khưu muốn xác minh trình độ thành tựu của vị ấy. Khi các tỳ khưu hỏi ông có thấy tự ngã hay bất cứ thứ gì liên quan đến ngã trong năm uẩn không, Khemaka trả lời "Không." Nhưng khi các tỳ khưu gợi ý rằng, nếu vậy, vị ấy phải là một vị A la hán không có phiền não, Khemaka trả lời rằng mặc dù ông ấy không tìm thấy bản ngã hay bất cứ thứ gì liên quan đến bản thân trong năm uẩn, nhưng ông ấy không phải là một vị A-la-hán vô lậu: Ông ấy vẫn có một cảm giác mơ hồ "Tôi là" mặc dù ông ấy không thấy rõ ràng "Đây là tôi" với liên quan đến vật chất, cảm giác, nhận thức, hình thành tinh thần hoặc ý thức. Cảm giác mơ hồ của anh ấy được ví như mùi của một bông hoa: Đó không phải là mùi của cánh hoa, cũng không phải màu sắc, cũng không phải phấn hoa, mà là mùi của bông hoa. Sau đó, anh ấy tiếp tục giải thích rằng ngay cả khi một người vẫn giữ được cảm giác "Tôi là" ở giai đoạn đầu của sự chứng ngộ, khi anh ta tiến xa hơn và đạt đến những giai đoạn cao hơn, cảm giác "Tôi là" này sẽ biến mất hoàn toàn, giống như mùi của xà phòng đọng lại trong một miếng vải mới giặt và biến mất sau một thời gian khi nó được giữ trong hộp. Trong kinh Puppha, Đức Phật tuyên bố rằng Ngài không tranh cãi hay tranh cãi với thế gian; chỉ có thế giới với chư thiên, ma vương, vua và người dân đang tranh chấp với anh ta. Tuyên bố sự thật không phải là tham gia vào các tranh chấp. Vị ấy chỉ nói những gì mà các nhà trí tuệ cho là đúng: Các nhà trí tuệ nói rằng không có sắc, thọ, tưởng, hành hay thức nào ổn định, thường hằng, lâu dài. Anh ấy cũng nói như vậy. Bậc trí nói rằng chỉ có sắc, thọ, tưởng, hành hay thức là không bền vững, vô thường, không trường tồn. Anh ấy cũng nói như vậy. Trong thế giới luôn thay đổi này, chỉ có những thứ có thể thay đổi và suy tàn liên tục. Nhận thức được bản chất thực sự của chúng, tôi tuyên bố rằng thế giới được tạo thành từ những thứ có thể bị suy tàn và phân hủy, cụ thể là các uẩn của vật chất, cảm giác, nhận thức, các hành và thức không ngừng sinh diệt. Không có gì khác ngoài những uẩn hoại diệt này. Này các tỳ khưu, ta dạy giáo pháp này một cách ngắn gọn. Tôi cũng dạy giáo pháp này một cách toàn diện và đầy đủ hơn. Nhưng nếu những người trần gian thông thường không được hướng dẫn vẫn không nhận thức và không biết mặc dù có những bài giảng rất khai sáng, tôi có thể giúp được gì? Này các Tỳ kheo, các loại hoa sen mọc trong nước, phát triển trong nước, vươn lên trên mặt nước và ở đó không bị nước làm ô nhiễm; tôi cũng được sinh ra trên thế giới này, tôi lớn lên trên thế giới này. Tôi đã phát triển trong thế giới này và vượt lên trên nó mà không dính mắc với nó, không bị nó ảnh hưởng". do đó không phải là tự ngã. Thọ uẩn được ví như một bong bóng khí. Những cảm giác khác nhau giống như bong bóng, biến mất nhanh chóng, vô thường, không đáng tin cậy, thuộc bản chất vô thường, khổ và vô ngã. Tri giác giác quan nắm bắt bất cứ điều gì được thấy, nghe, ngửi, thử, sờ hoặc biết, được ví như một ảo ảnh: Những gì được một samaṇa coi là một chúng sinh, một người đàn ông, một người phụ nữ hay một bản ngã là một ảo ảnh quang học giống như một ảo ảnh. Trên thực tế, nó chỉ là một hiện tượng sinh và diệt không ngừng. Saṅkhāra, các hoạt động của ý chí, được ví như thân cây chuối: Một thân cây chuối được tạo thành từ các lớp vật liệu dạng sợi không có lõi bên trong vững chắc và đáng kể. Saṅkhāra giống như thân cây chuối không có chất bên trong. Ý thức giống như một trò ảo thuật. Nó phát sinh và biến mất ngay lập tức. Tâm thức sinh khởi không như ý muốn, mà là do nhân duyên và hoàn cảnh chi phối.HET= NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).THIEN VIEN KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.16/4/2023.CHUYEN NGU TIENG ANH QUA TIENG VIET=THICH NU CHAN TANH.

Comments

Popular posts from this blog