Majjhima Nikāya - Quyển III Phần 2-3 Thể loại: KINH THERAVADA II. Anupada Vagga 1. Anupada Sutta Bài kinh này được thuyết tại Sāvatthi. Đức Phật trình bày đầy đủ chi tiết về đức hạnh của một trong hai vị Đại đệ tử của Ngài, Tôn giả Sāriputta, tán dương trí tuệ của ngài rộng lớn như trái đất rộng lớn, mô tả cách thức, không giống như các đệ tử bình thường khác đã đắc quả vị A-la-hán, Tôn giả Sāriputta đã trải qua thực hành để phát triển śīla, samādhi và paññā một cách rất thấu đáo, từng bước một, quán chiếu rất mãnh liệt về hiện tượng sinh diệt nhỏ nhất cho đến khi vị ấy đạt được mục tiêu cao nhất là đời sống phạm hạnh. Đức Phật cũng giải thích làm thế nào Tôn giả Sāriputta đã thành tựu viên mãn trong Giáo pháp để xứng đáng được tôn vinh là một Đại đệ tử của Đức Phật. 2. Kinh Chabbisodhana Đức Phật nói rằng khi bất kỳ vị tỳ khưu nào tuyên bố đã đạt được quả vị A la hán, lời tuyên bố của vị ấy không nên được thừa nhận hay bác bỏ ngay lập tức. Tuyên bố của ông cần được xem xét kỹ lưỡng theo các nguyên tắc hướng dẫn được cung cấp trong bài kinh này. 3. Sappurisa Sutta Phần này mô tả cách phân biệt một người tốt, xứng đáng với một người xấu, không xứng đáng, liệt kê 26 đặc điểm để đánh giá mỗi cá nhân. 4. Kinh Sevitabbāsevitabba Bài kinh này được Đức Phật thuyết ngắn gọn, và Tôn giả Sāriputta tiếp tục giảng giải chi tiết hơn. Nó đề cập đến những thực hành và hành động mà một tỳ khưu nên hoặc không nên sử dụng: Bất kỳ hành động hoặc thực hành hoặc đối tượng nào dẫn đến sự tiến bộ và phát triển tâm linh của một người nên được sử dụng và sử dụng; bất cứ điều gì gây bất lợi cho sự tiến bộ tâm linh của một người nên bị từ chối. 5. Bahudhātuka Sutta Bài kinh này là một nghiên cứu phân tích về các yếu tố, dhātu; các căn, āyatana; pháp duyên khởi; và nguyên nhân đúng hay sai. Chỉ vị tỳ khưu thiện xảo trong những nghiên cứu này mới có thể được coi là một người trí tuệ. 6. Isigili Sutta Bài kinh này được Đức Phật thuyết tại Isigili, một trong những ngọn đồi bao quanh Rājagaha. Đây là bản tường thuật về lý do tại sao ngọn đồi này được gọi bằng cái tên đó và về nhiều vị Độc giác Phật đã từng cư trú ở đó. 7. Mahācattārīsaka Sutta Bài kinh này trình bày chi tiết về Chánh Định có cơ sở trong bảy phần cấu thành khác của Thánh Đạo, về 20 thiện pháp và 20 bất thiện pháp. số 8. Niệm hơi thở (Ānāpānassati) Bài kinh niệm hơi thở (Ānāpānassati) như một phương pháp thiền định đã được giải thích cho một nhóm lớn các Tỳ kheo bao gồm gần như tất cả các đệ tử lớn tuổi nổi tiếng như Đại đức Sāriputta, Mahā Moggallāna, Mahā Kassapa, Anuruddha, Ānanda, v.v. Bốn Phương Pháp Chánh Niệm Kiên Định. Bốn Phương Pháp Chánh Niệm, được phát triển, thiết lập một người trong Bảy Yếu Tố Giác Ngộ. Bảy Yếu Tố Giác Ngộ, được phát triển, mang lại Tuệ Minh Sát và giải thoát. 9. Kāyagatāsati Sutta Bài kinh này mô tả thực hành thiền liên quan đến quán ba mươi hai phần của cơ thể. Các bước thực tế trong phương pháp cũng như các ưu điểm của nó được giải thích đầy đủ. 10. Saṅkhārupapatti Sutta Bài kinh này giải thích làm thế nào để một người có thể đạt được ước nguyện nếu một người được thiết lập tốt trong năm thiện pháp, đó là tín, giới, học, bố thí và trí tuệ. III. Suññata Vagga 1. Kinh Cūḷasuññata Đức Phật từng nói với Ānanda rằng Ngài thường an trú trong giải thoát của hư không, Suññata-Vihāra. Khi được Ānanda yêu cầu, anh ấy đã giải thích sự giải thoát của khoảng trống có nghĩa là gì - Giải phóng thông qua Minh sát mà phân biệt được sự trống rỗng của bản thân. 2. Mahāsuññata Sutta Thấy nhiều tỳ khưu sống cùng nhau trong một trú xứ đông đúc, Đức Phật nói với Ānanda rằng một tỳ khưu không nên thích sống chung với nhau. Cô tịch là lợi ích nhất cho một vị tỳ khưu. Ông kêu gọi các Tỳ-kheo hãy xem ông như một người bạn chân thành, người sẽ nhiều lần chỉ ra lỗi lầm của họ để giúp họ sửa sai. 3. Acchariya-abbhuta Sutta Bài kinh này thuật lại hai mươi đức tính kỳ diệu của Đức Phật được Tôn giả Ānanda tán dương. 4. Bākula Sutta Tỳ khưu Bākula, một trăm sáu mươi tuổi, gặp lại người bạn cũ, đạo sĩ lõa thể Kassapa, sau khi ông đã xuất gia trong Tăng đoàn của Đức Phật được tám mươi năm. Kassapa hỏi ông đã quan hệ tình dục thường xuyên như thế nào trong tám mươi năm đó. Bakula nói với người bạn của mình những thuộc tính kỳ diệu mà ông có được khi là một vị A la hán, kể cả việc ông đã trở thành một vị A la hán sau bảy ngày tinh tấn nỗ lực, sau đó ông đã hoàn toàn đoạn trừ các ô nhiễm đạo đức. 5. Dantabhūmi Sutta Trong bài kinh này, Đức Phật giải thích cho sa di Aciravata rằng một hoàng tử trẻ tuổi như hoàng tử Jayasena, con trai của vua Bimbisāra không thể hy vọng được biết, được thấy, để chứng ngộ các pháp như định và thiền-na, sống như vị ấy đã sống trong lòng xa hoa, bao quanh bởi dục lạc, hưởng lạc dục lạc và bị ngọn lửa dục thiêu đốt và thiêu đốt. Đức Phật đã chỉ ra sự khác biệt trong quan điểm giữa một vị A la hán và một người bình thường không được hướng dẫn khi đưa ra ví dụ về một con voi đã được thuần hóa và một con voi hoang trong rừng. 6. Bhūmija Sutta Bài kinh này được Tôn giả Bhūmija thuyết cho cháu trai của ông, Hoàng tử Jayasena để giải thích Quả sẽ dẫn đến như thế nào khi thực hành Bát Thánh Đạo. Đức Phật khẳng định rằng chỉ khi đi theo con đường đúng đắn, cụ thể là Bát Thánh Đạo chứ không phải bất kỳ Con Đường nào khác, thì Quả sẽ dẫn đến kết quả. Đức Phật đưa ra ví dụ về việc cố gắng lấy dầu từ cát, vắt sừng bò để lấy sữa, khuấy nước để làm bơ, và cọ xát hai khúc củi xanh ướt để nhóm lửa. 7. Anuruddha Sutta Bài kinh này được Tôn giả Anuruddha thuyết cho Pañcakaṅga, người thợ mộc, để giải thích sự khác biệt giữa Appamāṇa Cetovimutti, giải thoát nhờ thực hành bốn Thiền Brahmavihāra và Mahaggata Cetovimutti, giải thoát nhờ Thiền Kasiṇa sử dụng một pháp khí. 8. Upakkilesa Sutta Một lần, Đức Phật rời Kosambī vì các tỳ khưu cãi cọ, tranh chấp và đi đến công viên Pācinavaṁsa nơi Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimila đang trú ngụ. Khi những vị tỳ khưu này trình bày với Đức Phật về hào quang (obhāsa) và linh ảnh (dassana) với nhiều hình dạng và hình dạng khác nhau mà họ nhận thấy trong quá trình hành thiền, Đức Phật đã dạy họ về Upakkilesa, phiền não, xuất hiện ở một giai đoạn nhất định trong quá trình thiền định. Họ nên cảnh giác để không bị lạc lối bởi những phiền não lừa đảo này. 9. Kinh Balapaṇḍita Bài kinh này được Đức Phật thuyết tại Sāvatthi về kẻ ngu và hành vi đặc trưng của kẻ ngu; về những suy nghĩ, lời nói và hành động xấu xa của kẻ ngu gây hại cho bản thân và người khác như thế nào; và về cách những hành động xấu xa này dẫn người ngu đến những trạng thái đau khổ và khốn khổ. Một khi một kẻ ngu ngốc, do những hành động xấu xa của mình, thấy mình ở một trong những vùng địa ngục, thì có rất ít khả năng để anh ta quay trở lại các cõi cao. Cơ hội còn xa vời hơn cơ hội để một con rùa mù chui đầu qua một lỗ duy nhất trên một cái ách đang bị quăng quật giữa biển cả bão tố. Bài kinh cũng đề cập đến bậc minh triết và đặc điểm của họ; những suy nghĩ, lời nói và hành động lành mạnh của người khôn ngoan, những kết quả thiện lành do những hành động công đức như vậy và niềm hạnh phúc mà họ được hưởng trong các cõi hạnh phúc. 10. Devadūta Sutta Đây là một bài kinh về những quả ác phát sinh từ hành động bất thiện, kể chi tiết về khổ đau trong các cõi khổ đau.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).THIEN VIEN KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.16/4/2023.CHUYEN NGU TIENG ANH QUA TIENG VIET=THICH NU CHAN TANH.

Comments

Popular posts from this blog