Majjhima Nikāya - Quyển II Phần 4 Thể loại: KINH THERAVADA IV. Raja Vagga 1. Ghaṭikāra Sutta Bài kinh này, do Đức Phật thuyết khi đang du hành ở Kosala, thuật lại câu chuyện về lòng sùng mộ cao độ của người thợ gốm Ghaṭikāra, người đã chăm sóc cha mẹ mù lòa của mình và đồng thời cũng là người hầu cận Đức Phật Kassapa với lòng tôn kính tột độ. Cũng có lời kể về việc Ghaṭikāra đã cưỡng ép kéo theo người bạn của mình, chàng trai trẻ Jotipāla, đến nơi Đức Phật Kassapa ở để tỏ lòng kính trọng. Sau khi nghe các bài pháp, chàng trai trẻ Jotipāla rời bỏ cuộc sống gia đình để được Đức Phật Kassapa thu nhận vào Tăng đoàn. Câu chuyện cổ thú vị này đã xảy ra vào thời Đức Phật Kassapa cách đây nhiều kiếp, được kể lại cho Tôn giả Ānanda bởi Đức Phật Gotama đang đứng tại chính nơi đã từng đứng cách đây rất lâu, ngôi nhà của người thợ gốm Ghaṭikāra. Đức Phật kết thúc câu chuyện của mình bằng cách tiết lộ rằng Jotipāla trẻ tuổi không ai khác chính là Đức Phật Gotama hiện tại. 2. Raṭṭhapāla Sutta Raṭṭhapāla, con trai của một bà-la-môn giàu có đã khó khăn lắm mới được cha mẹ cho phép để trở thành một tỳ khưu dưới sự hướng dẫn của Đức Phật. Sau mười hai năm tinh tấn nỗ lực, khi trở thành một vị A-la-hán chính thức, ngài về thăm nhà cha mẹ mình. Cha mẹ anh đã cố gắng lôi kéo anh bằng của cải và vợ trở lại cuộc sống gia đình nhưng vô ích. Ngài dạy cha mẹ định luật vô thường, anicca; anh ấy nói rằng anh ấy không thấy gì quyến rũ trong sự giàu có và người vợ. 3. Kinh Maghadeva Bài kinh này được thuyết tại vườn xoài Hoàng gia ở Mithilā. Đức Phật nói với Đại đức Ānanda về truyền thống cao quý do vị vua Maghadeva công chính đặt ra. Khi tóc anh bắt đầu bạc trắng, ông từ bỏ cuộc sống gia đình để lại quyền thống trị cho con trai cả. Truyền thống này được truyền từ vua này sang con khác qua nhiều thế hệ, qua hàng ngàn hàng ngàn năm cho đến thời trị vì của Vua Nimi. Vua Nimi có một người con trai tên là Kaḷārajanaka, người đã không xuất gia sống không gia đình khi thời điểm đến như những người tiền nhiệm của mình. Kaḷārajanaka đã chấm dứt thực hành cao quý do truyền thống đặt ra. Do đó, ông trở thành người cuối cùng của truyền thống đó. Đức Phật tiết lộ rằng Ngài là Vua Maghadeva của thời xa xưa đã đặt ra truyền thống cao thượng. Đức Phật nói rằng truyền thống cao thượng đó không đưa đến sự tĩnh lặng, đến tri thức cao hơn. Nó chỉ đưa đến cõi Phạm Thiên. Nhưng sự thực hành cao quý mà ông đang hướng dẫn bây giờ với tư cách là một vị Phật chắc chắn đã dẫn đến sự vỡ mộng với năm uẩn, sự từ bỏ dính mắc và chấm dứt khổ đau; để tĩnh lặng, hiểu biết cao hơn, hiểu biết sâu sắc và chứng ngộ Niết Bàn. Sau đó, Đức Phật khuyến khích, Ānanda, hãy tiếp tục làm theo cách thực hành tốt này mà Ta đã đặt ra. Hãy để bạn không phải là người mà truyền thống của tôi kết thúc. 4. Madhura Sutta Bài kinh này do Tôn giả Mahākaccāna thuyết tại Madhura. Ngài bác bỏ tuyên bố của những người Bà-la-môn rằng chỉ có những người Bà-la-môn là cao thượng và cao thượng, còn những người khác thì thấp kém hơn. Ông giải thích với Vua Madhura rằng chính đạo đức của một người chứ không phải xuất thân đã tạo nên sự cao quý của một người: Bất kỳ ai dù là Bà la môn, Khattiya, Vessa hay Sudda, phạm một hành động sai trái sẽ bị tái sinh vào những cảnh giới khốn khổ; ai làm việc thiện sẽ được tái sinh vào cảnh giới hạnh phúc. Sau bài pháp này của Tôn giả Mahākaccāna, Vua Madhura, trước đây theo một tín ngưỡng khác, đã quy y Phật, Pháp và Tăng. 5. Kinh Bodhirājakumāra Bài kinh này được Đức Phật thuyết tại Susumāragira ở xứ Bhagga liên quan đến lời tuyên bố của Hoàng tử Bodhi rằng "sukha, hạnh phúc, không thể đạt được qua sukha; sukha chỉ có thể đạt được qua khổ đau". Đức Phật nói rằng Ngài cũng đã từng nghĩ theo cách tương tự, và kể lại toàn bộ câu chuyện về sự xuất gia của Ngài, cuộc đấu tranh của Ngài với những thực hành sai lầm, sự tìm kiếm Chân lý điên cuồng và giác ngộ tối thượng. Khi được hoàng tử hỏi một vị tỳ khưu phải mất bao lâu để đạt được, ngay trong đời này, mục tiêu tối thượng của đời sống phạm hạnh, quả vị A la hán, Đức Phật đã quy định năm phẩm chất cho một vị tỳ khưu có nguyện vọng. Nếu anh ta được trang bị năm thuộc tính: niềm tin, sức khỏe tốt, chính trực (không dối trá), tinh tấn không ngừng, và đủ trí tuệ để hiểu biết các hiện tượng sinh diệt, và có Như Lai làm thầy hướng dẫn, vị tỳ khưu sẽ chứng quả A la hán trong vòng bảy năm. Trong hoàn cảnh thuận lợi nhất, anh ta có thể thành tựu trong vòng nửa ngày. 6. Kinh Aṅgulimāla Bài kinh này, do Đức Phật thuyết tại Sāvatthi, mô tả cách Aṅgulimāla, tên cướp và kẻ sát nhân khét tiếng, được Đức Phật thuần phục, và cách ông quy y Phật, Pháp và Tăng. Mặc dù có tên là Ahiṁsaka, Bất bạo động, nhưng trước đây ông là người độc ác và giết người nên được mọi người gọi là Aṅgulimāla. Giờ đây đã được Đức Phật thuần hóa, anh ta không còn làm hại bất cứ ai nữa và bắt đầu sống một cuộc đời đúng với tên gọi của mình. Ông đã trở thành một vị A la hán. 7. Piyajātika Sutta Một gia chủ ở Sāvatthi có con trai đã chết đi đến gặp Đức Phật, người đã nói với ông rằng những người thân yêu đã tạo ra nguồn gốc của nỗi buồn khi họ mang lại đau đớn và buồn phiền. Vị gia chủ không hài lòng với những gì Đức Phật đã nói. Những người đánh bạc chơi xúc xắc ngay gần tu viện của Đức Phật đã nói với anh ta một cách khác. Họ nói rằng những người thân yêu chắc chắn mang lại niềm vui và hạnh phúc. Vua Pasenadi đồng tình với những người đánh bạc nhưng hoàng hậu Mallikā của ông khẳng định rằng chỉ những gì Đức Phật nói mới đúng. Cô biện minh cho niềm tin của mình vào Đức Phật bằng cách đưa ra nhiều minh họa về trí tuệ soi sáng và thâm nhập của Đức Phật. Vua Pasenadi cuối cùng đã bị khuất phục trước quan điểm của bà. 8. Bāhitika Sutta Bài kinh này được Tôn giả Ānanda thuyết tại Sāvatthi cho Vua Pasenadi trên bờ sông Aciravatī. Ngài đối phó với những việc làm bất thiện, lời nói và ý nghĩ đáng trách và hành động thiện, lời nói và ý nghĩ đáng khen. Vua Pasenadi hài lòng với bài pháp và tặng một tấm vải từ xứ sở Bāhiti cho Tôn giả Ānanda. 9. Dhammacetiya Sutta Vua Pasenadi xứ Kosala một lần đến yết kiến Đức Phật. Vào nơi Đức Phật ở, ông đến đảnh lễ dưới chân Đức Phật. Khi được Đức Phật hỏi tại sao ông lại tỏ ra vô cùng khiêm tốn và tôn kính như vậy đối với nhục thân của Đức Phật, nhà vua đã hùng hồn đọc một bài điếu văn ca ngợi đức hạnh của Đức Phật. Đức Phật nói với các Tỳ kheo của Ngài rằng những lời mà nhà vua đã thốt ra đã tạo thành một đài tưởng niệm để tôn vinh Giáo pháp và khuyến khích họ tìm hiểu đài tưởng niệm này và trì tụng nó thường xuyên. 10. Kinh Kaṇṇakatthala Bài kinh này, được Đức Phật thuyết tại Uruññā.HET= NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ). THIEN VIEN KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.16/4/2023.CHUYEN NGU TIENG ANH QUA TIENG VIET=THICH NU CHAN TANH.
Majjhima Nikāya - Book II Part 2 Category: THERAVADA SUTRAS II. Tỳ khưu Vagga 1. Ambalaṭṭhikarāhulovāda Sutta Trong bài kinh này, được đọc tại Rājagaha, Đức Phật đã khuyến khích con trai của Ngài là Rāhula, một sa-di bảy tuổi, về sự cần thiết của việc tuân thủ giới luật cơ bản về tính trung thực và thực hành chánh niệm, bằng cách đưa ra những ví dụ về người nằm ngửa. bình nước, con voi hoàng gia và chiếc gương. 2. Mahārāhulovāda Sutta Bài kinh về năm uẩn này được Đức Phật thuyết tại Sāvatthi cho Rāhula vào năm mười tám tuổi. Đại đức Sāriputta cũng dạy Rāhula thiền định về hơi thở (Ānāpāna). Đức Phật giải thích thêm cho ông về những lợi ích của thiền hơi thở và ban cho ông một bài pháp khác về tứ đại. 3. Cūḷamālukya Sutta Bài kinh này được thuyết tại Sāvatthi cho tỳ khưu Mālukya. Tỳ khưu Mālukya gián đoạn thiền định vào một buổi chiều, đến gặp Đức Phật và hỏi ngài những câu hỏi cổ điển nổi tiếng: Vũ trụ có trường tồn hay không, v.v.; linh hồn có giống như thể xác không, linh hồn là một ...
Comments
Post a Comment