Majjhima Nikāya - Book II Part 5 Category: THERAVADA SUTRAS V. Brāhmaṇa Vagga 1. Brahmāyu Sutta Bà-la-môn Brahmāyu được một trăm hai mươi tuổi khi nghe danh tiếng Đức Phật. Ông cử đệ tử của mình là Uttara thông thạo kinh Veda để tìm hiểu bằng cách xem xét ba mươi hai đặc điểm thể chất của một vĩ nhân xem Gotama có thực sự là một Đức Phật Giác ngộ hay không. Khi Uttara báo cáo tốt về việc làm chứng cho Đức Phật có những đặc điểm cần thiết của một vị Phật, Brahmāyu đã tự mình đến gặp Đức Phật. Hoàn toàn hài lòng, sau khi nghe bài pháp tuần tự, rằng Gotama thực sự là một vị Phật giác ngộ, ông trở thành một đệ tử tận tụy và đạt được giai đoạn thứ ba của Đạo và Quả, một Anāgāmī trước khi thị tịch. 2. Sela Sutta Sela là một Bà-la-môn ở thị trấn Apaṇa, Khi nghe về danh tiếng của Đức Phật từ ẩn sĩ Keṇiya đã đi đến gặp Đức Phật cùng với ba trăm thanh niên Bà-la-môn. Sau khi nghe một bài pháp từ Đức Phật, anh ta hoàn toàn tin chắc rằng anh ta thực sự đã thấy một Đức Phật giác ngộ thực sự. Tất cả đều thỉnh cầu và được Đức Phật cho phép xuất gia. 3. Assalāyana Sutta Khoảng năm trăm người Bà-la-môn đến Sāvatthi vì công việc kinh doanh đã cố gắng thách thức Đức Phật về quan điểm của Ngài đối với sự trong sạch và cao thượng của bốn hạng người. Họ cử Assalāyana, một thanh niên tài giỏi, thông thạo kinh Veda, để thi đấu với Đức Phật. Cuộc gặp gỡ của chàng trai trẻ với Đức Phật đã kết thúc bằng sự cải đạo của anh ta. 4. Ghoṭamukha Sutta Một cuộc thảo luận đã diễn ra giữa Tôn giả Udena và một Bà-la-môn tên là Ghoṭamukha về chủ đề thực hành đời sống phạm hạnh. Tôn giả Udena mô tả bốn loại người dấn thân vào các thực hành khổ hạnh. Sau bài giảng, người Bà-la-môn trở thành đệ tử của Tôn giả Udena và quy y Phật, Pháp và Tăng. 5. Caṅkī Sutta Caṅkī, một bà-la-môn ở làng Opāsāda, đến yết kiến ​​Đức Phật cùng với một đám đông, trong số đó có một bà-la-môn trẻ tuổi tên là Kāpāṭika. Chàng trai trẻ tham gia vào cuộc thảo luận với Đức Phật về Tam Vệ Đà đã được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong truyền thống không gián đoạn. Truyền thống mà những người Bà-la-môn tin là Chân lý duy nhất được Đức Phật ví như một hàng người mù, mỗi người bám vào người trước. 6. Esukārī Sutta Bài kinh này được thuyết tại Sāvatthi liên quan đến một bà-la-môn tên là Esukārī. Cũng trong bài kinh này, Đức Phật bác bỏ sự phân loại xã hội Bà-la-môn thành bốn giai cấp và khẳng định địa vị cao nhất dành cho người Bà-la-môn. Không chỉ có những người Bà-la-môn mới có thể phát triển tâm từ, thoát khỏi thù hận và sân hận. Các thành viên của các tầng lớp khác cũng có thể phát triển tâm từ. Không phải do sinh ra mà do việc thực hành thiện pháp đã làm cho một người trở nên cao thượng. 7. Dhanañjāni Sutta Dhanañjāni là một đệ tử cư sĩ già tận tụy của Đức Phật. Sau cái chết của người vợ đầu tiên, người có niềm tin lớn vào Phật, Pháp và Tăng, ông không còn tinh tấn và chánh niệm trong việc thực hành giáo pháp nữa. Người vợ thứ hai của ông không có niềm tin vào Giáo Pháp của Đức Phật. Để duy trì gia đình của mình, anh ta đã dùng đến những phương tiện kiếm sống sai trái. Tôn giả Sāriputta đưa anh ta trở lại con đường đúng đắn. Trên giường bệnh, ông cho mời Đại Đức Sāriputta đến, người đã an ủi ông bằng giáo pháp. Điều này khiến anh ta sau khi chết được tái sinh trong thế giới Phạm thiên. Đức Phật hỏi Đại đức Sāriputta tại sao Ngài chỉ đưa vị Bà-la-môn già vào con đường đi đến cõi Phạm thiên thấp kém hơn khi ông ta có thể đạt được một chứng quả cao hơn. 8. Vāseṭṭha Sutta Một cuộc thảo luận đã nảy sinh giữa hai thanh niên Bà-la-môn Vāseṭṭha và Bhāradvāja về nguồn gốc của một Bà-la-môn: Bhāradvāja cho rằng chính dòng dõi, dòng dõi và đẳng cấp đã tạo nên một người Bà-la-môn. Vāseṭṭha tin rằng hành vi đạo đức và thực hiện các nghĩa vụ thông thường là những phẩm chất cần thiết để trở thành một brāhmaṇa. Họ đến gặp Đức Phật để giải quyết tranh chấp của họ. Đức Phật nói với họ rằng một người không phải là một bà-la-môn chỉ vì sự ra đời của anh ta nếu anh ta đầy những ràng buộc thế gian, hoặc bị khai thác bởi lòng tham, ác ý, thèm muốn và vô minh. Một người trở thành một vị Bà-la-môn dù sinh ra ở đâu, khi người ấy đã cắt đứt những ô nhiễm kiết sử, loại bỏ những chướng ngại của vô minh và đạt được trí tuệ về Tứ Diệu Đế. Bà la môn hoàn hảo nhất là một vị A la hán. 9. Subha Sutta Bài kinh này được thuyết về Subha, con trai của Bà-la-môn Todeyya, tại Sāvatthi. Giống như những người Bà-la-môn khác, Subha tin rằng chỉ những người tại gia mới có thể hoàn thành những công đức một cách đúng đắn, chứ không phải những người đã xuất gia. Công việc của các gia chủ tạo ra lợi ích lớn trong khi công việc của người xuất gia mang lại ít lợi ích. Đức Phật đã loại bỏ những tà kiến ​​của ông và Subha trở thành một đệ tử thuần thành của Đức Phật. 10. Saṅgārava Sutta Saṅgārava là một thanh niên Bà-la-môn đầy kiêu hãnh với việc học kinh Vệ Đà, nuôi dưỡng những quan điểm sai lầm về sự ra đời của mình. Ông đến hỏi Đức Phật rằng liệu Đức Phật có tuyên bố, giống như một số sa-môn và bà-la-môn, đã đạt được ngay trong kiếp này, trí tuệ và linh kiến ​​đặc biệt, và đã đến được bờ bên kia hay không. Đức Phật giải thích rằng có ba loại Sa-môn và Bà-la-môn đưa ra những lời tuyên bố như vậy: những người đưa ra lời tuyên bố qua tin đồn, chỉ học được những điều từ tin đồn; những người đưa ra tuyên bố chỉ bằng lý luận và logic; và cuối cùng là những người đưa ra tuyên bố bằng cách đích thân chứng ngộ tuệ giác thâm nhập của Giáo pháp chưa từng có trước đây.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).THIEN VIEN KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.16/4/2023.CHUYEN NGU TIENG ANH QUA TIENG VIET=THICH NU CHAN TANH.

Comments

Popular posts from this blog