Majjhima Nikāya - Book II Part 1 Category: THERAVADA SUTRAS (b) Majjhima Paṇṇāsa Pāḷi I. Gahapati Vagga 1. Kandaraka Sutta Bài kinh này được thuyết tại Campā liên quan đến Kandaraka, nhà du hành khổ hạnh, và Pessa, con trai của một người cỡi voi, người kinh ngạc trước sự im lặng được duy trì bởi hội chúng đông đảo các vị tỳ khưu, không tạo ra bất kỳ âm thanh nào, thậm chí không một tiếng hắt hơi hay một tiếng ho. Đức Phật giải thích rằng sự im lặng của họ là do họ đã thành tựu định và do họ tu tập bốn Phương Pháp Chánh Niệm Kiên Định. Đức Phật cũng làm sáng tỏ bốn loại người hành thiền. 2. Aṭṭhakanāgara Sutta Gia chủ Dasama của Aṭṭhaka muốn biết liệu có một pháp duy nhất nào có thể đưa đến sự giải thoát và chứng ngộ Niết-bàn hay không. Tôn giả Ānanda thông báo với ngài rằng có một nhóm pháp, số lượng là mười một, cụ thể là, bốn jhāna, bốn thực hành Brahmavihāra, và Ākāsānañcāyatana, Viññāṇañcāyatana, Ākiñcaññāyatana. Quán chiếu bản chất vô thường của mỗi pháp này sẽ đưa hành giả đến Niết Bàn. 3. Sekha Sutta Bài kinh này do Tôn giả Ānanda thuyết cho những người Thích Ca do Hoàng tử Mahānāma đứng đầu. Đại Đức Ānanda đã giải thích con đường bao gồm ba bước, śīla, samādhi và paññā mà một người khao khát đạt đến tri thức cao hơn phải tuân theo mà đỉnh cao là sự hiểu biết về sự chấm dứt của āsava. 4. Potaliya Sutta Potaliya đã bỏ lại những công việc thế gian để hướng đến cuộc sống phạm hạnh. Khi Đức Phật nhìn thấy anh ta mặc trang phục bình thường hàng ngày, Đức Phật gọi anh ta là "Gahapati", gia chủ, khiến Potaliya bực bội. Đức Phật giải thích với anh ta rằng trong từ vựng của Luật tạng, một người được cho là đã đoạn tuyệt với thế giới chỉ khi người đó không sát sinh, trộm cắp, nói dối, vu khống, và chỉ khi người đó tiết độ, không tự phụ và kiểm soát được bản thân. tính khí của một người. 5. Jīvaka Sutta Bài kinh này được thuyết tại Rājagaha liên quan đến Jīvaka, vị thầy thuốc vĩ đại, người đã hỏi liệu có đúng là Đức Phật đã ăn thịt của những con vật được giết có mục đích cho mình hay không. Đức Phật nói với ông rằng ông đã đặt ra một quy tắc cho các tỳ khưu là không được ăn bất kỳ loại thịt nào mà họ đã nhìn thấy, nghe thấy hoặc có lý do để nghi ngờ là được chuẩn bị đặc biệt cho họ. Lại nữa, Tỳ khưu không nên tỏ ra ham ăn, cũng không nên tham ăn; nên ăn với suy nghĩ rằng mình dùng bữa chỉ để nuôi thân hầu theo đuổi con đường giải thoát. 6. Upāli Sutta Một đệ tử cư sĩ nổi tiếng, giàu có của Nigaṇṭha Nātaputta được thầy cử đến gặp Đức Phật và đánh bại Ngài trong cuộc tranh luận về một số khía cạnh của Thuyết Nghiệp báo. Trong khi Nigaṇṭha nhấn mạnh rằng các hành động thân và lời nói sẽ tạo ra nhiều kết quả hơn, thì Đức Phật khẳng định rằng ý chí hay hành động tinh thần mới là điều tối quan trọng. Bằng bài giảng của mình, Đức Phật đã cải hóa Upāli, và bị choáng ngợp bởi cơn thịnh nộ dữ dội vì mất đi người đệ tử lỗi lạc nhất của mình, Nātaputta qua đời. 7. Kukkuravatika Sutta Bài kinh này, được Đức Phật thuyết cho hai đạo sĩ lõa thể tên là Puṇṇa và Seniya tại thị trấn Koliya, đề cập đến bốn loại hành động và bốn loại kết quả phát sinh từ đó: 1. ác nghiệp dẫn đến quả báo đen, 2. Hành động trắng dẫn đến kết quả trắng, 3. hành động vừa đen vừa trắng dẫn đến kết quả vừa đen vừa trắng và 4. hành động không đen không trắng dẫn đến kết quả không đen không trắng. 8. Abhayarājakumāra Sutta Hoàng tử Abhayarājakumāra được Nigaṇṭha Nātaputta cử đến để hỏi Đức Phật liệu ông có thốt ra những lời khó chịu về số phận của Devadatta hay không. Đức Phật đã liệt kê sáu cách phát ngôn mà từ đó Ngài sẽ tạo ra hai cách phát biểu: lời chân thật, có lợi ích nhưng không làm hài lòng người khác và lời nói chân thật, có ích lợi và dễ chịu cho người khác. 9. Bahuvedanīya Sutta Bài kinh này được giảng tại Sāvatthi để giải thích các loại cảm thọ khác nhau có thể có hai loại: sukha và dukkha vedanā; hoặc ba số bằng cách bao gồm upekkhā vedanā; hoặc năm, sáu, mười tám hoặc ba mươi sáu, hoặc một trăm lẻ tám, tùy theo phương pháp liệt kê. Thông thường những cảm giác phát sinh từ khoái cảm của các giác quan được coi là sukha, hay hạnh phúc. Nhưng Đức Phật giải thích rằng đỉnh cao của hạnh phúc là đạt được nirodha samāpatti. 10. Kinh Apaṇṇaka Bài kinh này được Đức Phật thuyết cho dân làng Sālā ở xứ Kosala, những người chưa chấp nhận bất kỳ giáo lý nào do các nhà lãnh đạo của các giáo phái khác nhau đến thăm làng của họ giảng dạy. Đức Phật đã chỉ cho họ con đường đúng đắn sẽ không dẫn họ lạc lối: Những quan điểm sai lầm của các bộ phái trái ngược với những quan điểm đúng đắn do Đức Phật đề xướng; những bất lợi của tà kiến, và những lợi ích của chánh kiến đã được giải thích.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).THIEN VIEN KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.16/4/2023.CHUYEN NGU TIENG ANH QUA TIENG VIET=THICH NU CHAN TANH.
Majjhima Nikāya - Book II Part 2 Category: THERAVADA SUTRAS II. Tỳ khưu Vagga 1. Ambalaṭṭhikarāhulovāda Sutta Trong bài kinh này, được đọc tại Rājagaha, Đức Phật đã khuyến khích con trai của Ngài là Rāhula, một sa-di bảy tuổi, về sự cần thiết của việc tuân thủ giới luật cơ bản về tính trung thực và thực hành chánh niệm, bằng cách đưa ra những ví dụ về người nằm ngửa. bình nước, con voi hoàng gia và chiếc gương. 2. Mahārāhulovāda Sutta Bài kinh về năm uẩn này được Đức Phật thuyết tại Sāvatthi cho Rāhula vào năm mười tám tuổi. Đại đức Sāriputta cũng dạy Rāhula thiền định về hơi thở (Ānāpāna). Đức Phật giải thích thêm cho ông về những lợi ích của thiền hơi thở và ban cho ông một bài pháp khác về tứ đại. 3. Cūḷamālukya Sutta Bài kinh này được thuyết tại Sāvatthi cho tỳ khưu Mālukya. Tỳ khưu Mālukya gián đoạn thiền định vào một buổi chiều, đến gặp Đức Phật và hỏi ngài những câu hỏi cổ điển nổi tiếng: Vũ trụ có trường tồn hay không, v.v.; linh hồn có giống như thể xác không, linh hồn là một ...
Comments
Post a Comment